Xuất khẩu lao động Nhật Bản Xuất khẩu lao động sang Nhật Xuất khẩu lao động Nhật

Trang bị kiến thức luật về hợp đồng lao động tại Nhật Bản

Kiến thức cho người lao động về luật hợp đồng lao động tại Nhật Bản

Hiểu được những luật định dành cho người lao động để có thể trang bị cho bản thân những kiến thức tốt nhất khi cần có thể áp dụng. Những luật định này giống như người đồng hành của người lao động trong suốt quá trình làm việc. Nhờ vào đó người lao động có thể thấy được quyền lợi của bản thân trong việc hưởng lương, hưởng chế độ ưu đãi hay những việc không được làm. Và điều mà các lao động Việt Nam cần chú ý hơn và cố gắng theo sát bộ luật này để có thể giúp ích cho bản thân rất nhiều

Hợp đồng Vi phạm Luật này

Điều 13. Hợp đồng lao động cung cấp cho các điều kiện mà không đáp ứng các tiêu chuẩn của Luật này không có giá trị đối với các phần như vậy có làm việc. Trong trường hợp này một phần đã trở thành không hợp lệ sẽ bị chi phối bởi các tiêu chuẩn được quy định trong Luật này.

Thời hạn hợp đồng

Điều 14. Hợp đồng lao động, trừ những người không có một khoảng thời gian nhất định, và ngoại trừ những quy định rằng thời hạn sẽ là khoảng thời gian cần thiết để hoàn thành một dự án quy định, không được kết luận trong một thời gian dài hơn một năm.

Rõ ràng bản Tuyên Bố của Điều kiện làm việc

Điều 15. Trong giao kết hợp đồng lao động, sử dụng lao động phải nêu rõ mức lương, giờ làm việc và điều kiện làm việc khác cho người lao động. Trong trường hợp này vấn đề liên quan, lương sẽ được nêu rõ trong cách thức quy định bởi pháp lệnh.

2. Trong trường hợp các điều kiện làm việc như đã nêu rõ ràng theo quy định của khoản trên khác với thực tế thực tế, các công nhân có thể ngay lập tức hủy bỏ hợp đồng lao động.

3. Trong trường hợp thuộc khoản trên, trong trường hợp một công nhân đã thay đổi hay nơi mình cho công việc trở về nhà trong vòng 14 ngày kể từ ngày huỷ bỏ, sử dụng lao động phải chịu các chi phí đi lại cần thiết cho người lao động.

Bàn về định trước Indemnity

Điều 16. Người sử dụng lao không làm cho một hợp đồng mà sửa chữa trước hoặc là một khoản tiền phải trả cho các chủ nhân vi phạm hoặc hợp đồng hoặc một số tiền bồi thường thiệt hại.

Bàn về Bồi Against tiến bộ

Điều 17. Người sử dụng lao không bù đắp tiền lương đối với tiến bộ của tiền hay tiến bộ của các khoản tín dụng khác thực hiện như một điều kiện để làm việc.

Điều kiện bắt buộc

Điều 18. Người sử dụng lao không yêu cầu một hợp đồng cho tiền tiết kiệm hoặc thực hiện một hợp đồng phụ trách tiết kiệm vụ liên quan đến hợp đồng lao động.

2. Người sử dụng lao, trong cách tính phí của các khoản tiết kiệm của người lao động ủy thác để sử dụng lao động do người lao động, sẽ ký một bản thỏa thuận với công đoàn của đa số người lao động được tổ chức tại nơi làm việc, nơi một liên minh như vậy tồn tại, hay với một người đại diện cho đa số công nhân, nơi không có công đoàn như vậy tồn tại, và phải nộp văn bản thoả thuận với cơ quan hành chính.

3. Người sử dụng lao, trong cách tính phí của các khoản tiết kiệm của người lao động ủy thác để sử dụng lao động do người lao động, sẽ thiết lập quy tắc về việc giữ tiền tiết kiệm và thực hiện các bước để thông báo cho người lao động của các quy định, chẳng hạn như gửi bài quy định như vậy tại nơi làm việc.

4. Người sử dụng lao, trong cách tính phí của các khoản tiết kiệm của người lao động ủy thác để sử dụng lao động do người lao động, thực hiện trả lãi trong trường hợp các khoản tiết kiệm bị tạm giữ cấu thành một khoản tiền gửi được chấp nhận. Nếu trong trường hợp này, số tiền lãi phải trả là dưới số tiền lãi dựa trên lãi suất được thành lập theo pháp lệnh có cân nhắc đến các mức lãi suất đối với tiền gửi nhận bởi các tổ chức ngân hàng, sử dụng lao động sẽ được coi là đã trả tiền lãi tương đương với mà dựa trên giá được xác định bởi pháp lệnh.

5. Người sử dụng lao, trong cách tính phí của các khoản tiết kiệm của người lao động ủy thác để sử dụng lao động do người lao động, phải trả lại các khoản tiết kiệm cho người lao động theo yêu cầu mà không có sự chậm trễ.

6. Trong trường hợp người sử dụng lao động vi phạm các quy định của đoạn trước và phí lấy tiếp tục tiết kiệm của người lao động bằng cách sử dụng lao động được coi là có hại nghiêm trọng đến lợi ích của người lao động, các văn phòng hành chính có thể yêu cầu sử dụng lao động đình chỉ chủ trì thực hiện tiết kiệm trong câu hỏi trong giới hạn như là cần thiết.

7. Chủ nhân đã được ra lệnh đình chỉ lấy phí tiết kiệm theo quy định tại các khoản trên sẽ trả lại tiền tiết kiệm bị tạm giữ cho người lao động không chậm trễ.

Hạn chế về Miễn nhiệm của người lao động

Điều 19. Người sử dụng lao không sa thải một nhân viên trong một thời gian nghỉ ngơi để điều trị y tế liên quan đến chấn thương của bệnh phải chịu đựng trong quá trình làm nhiệm vụ cũng không trong vòng 30 ngày sau đó với, và không được xả một người phụ nữ trong một thời gian nghỉ ngơi trước và sau sinh con theo quy định tại Điều 65 cũng không phải trong vòng 30 ngày sau đó; cung cấp, tuy nhiên, điều này không áp dụng trong trường hợp người sử dụng lao đền bù cho việc chấm dứt theo quy định tại Điều 81 và cũng không khi sự tồn tại của các doanh nghiệp đã được thực hiện như không thể bởi một thảm họa tự nhiên hoặc nguyên nhân bất khả kháng khác.

2. Trong trường hợp có hoàn cảnh dưới phần sau của các điều khoản của các khoản trên, người sử dụng lao phải được sự chấp thuận của các cơ quan hành chính đối với các lý do trong câu hỏi với.

Điều kiện thông báo sa thải

Điều 20. Trong trường hợp người sử dụng lao muốn sa thải người lao động, sử dụng lao động phải cung cấp ít nhất là 30 ngày kể từ ngày thông báo trước. Nếu chủ nhân không cung cấp cho 30 ngày thông báo tạm ứng chi trả tiền lương trung bình cho một khoảng thời gian không ít hơn 30 ngày. Tuy nhiên, điều này không áp dụng trong các sự kiện mà sự tồn tại của các doanh nghiệp đã được thực hiện như không thể bởi một thảm họa tự nhiên hoặc nguyên nhân bất khả kháng khác không khi người lao động bị sa thải vì lý do liên quan đến người lao động.

2. Các số ngày thông báo theo khoản trên có thể bị giảm trong trường hợp người sử dụng lao trả mức lương trung bình cho mỗi ngày mà khoảng thời gian này được giảm.

3. Các quy định của đoạn 2 của bài viết trước thì áp dụng tương ứng với một trường hợp dưới điều kiện để đoạn l.

Điều 21. Các quy định của các điều trên không áp dụng cho bất kỳ nhân viên tới theo một trong các mục sau đây; cung cấp, tuy nhiên, điều này sẽ không phải là trường hợp đối với một nhân viên tới theo khoản 1 đã được sử dụng liên tục trong hơn một tháng với, một công nhân đến theo một trong hai khoản 2 hoặc khoản 3 người đã được sử dụng liên tục trong hơn thời gian quy định trong từng mục chẳng hạn tương ứng, cũng không phải một nhân viên tới theo khoản 4 người đã được sử dụng liên tục trong hơn 14 ngày:

(1) Người lao động đang làm việc trên một cơ sở hàng ngày

(2) Người lao động đang làm việc trong một thời gian cố định không kéo dài hơn hai tháng

(3) Người lao động đang làm việc trong công việc thời vụ có thời hạn không quá bốn tháng

(4) Người lao động trong thời gian thử việc

Giấy chứng nhận việc làm

Điều 22. Khi một nhân viên vào dịp rời việc làm yêu cầu một giấy chứng nhận nêu rõ thời gian làm việc, các loại nghề nghiệp, và vị trí trong doanh nghiệp và tiền lương, sử dụng lao động cung cấp một mà không có sự chậm trễ.

2. Người sử dụng lao không bao gồm trong giấy chứng nhận theo khoản 1 mục bất kỳ mà người lao động không có yêu cầu.

3. Người sử dụng lao không, trong một kế hoạch có chủ ý với một bên thứ ba và với ý định gây cản trở đến việc làm của người lao động, gửi bất kỳ thông tin liên lạc liên quan đến quốc tịch, tín ngưỡng, và tình trạng hoặc công đoàn hoạt động xã hội của người lao động hoặc bao gồm bất kỳ dấu hiệu bí mật trong Giấy chứng nhận theo khoản l.

Điều kiện trả lại tiền và vật có giá trị khác

Điều 23. Sau cái chết của công nhân hoặc để lại công ăn việc làm, trong trường hợp có yêu cầu của một có quyền theo hợp đồng thì sử dụng lao động trả lương và trả lại dự trữ, tiền đặt cọc, tiền tiết kiệm, và bất kỳ khoản tiền nào khác và có giá trị mà công nhân là chính đáng được hưởng, bất kể tên mà các quỹ và vật có giá trị như vậy có thể được gọi là, trong vòng 7 ngày.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về tiền lương và / hoặc các quỹ và vật có giá trị nêu tại khoản trên, người sử dụng lao trả và / hoặc trả lại bất kỳ phần không thể tranh cãi trong thời gian nêu ở đoạn trên.

Bình luận của bạn